Thông tin từ Báo Cáo Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh

Về cơ bản một Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ cho bạn biết tình hình thu chi của công ty như thế nào trong 1 năm hoặc 1 quý. Việc nghiên cứu báo cáo kết quả kinh doanh thường niên (không phải báo cáo quý) của công ty sẽ cho bạn cái nhìn tốt hơn về vị thế tổng thể của công ty bởi nhiều công ty đều trải qua sự biến động về doanh số qua các thời kỳ trong năm.

bao-cao-ket-qua-kinh-doanh

Mục đầu tiên trong Báo cáo kết quả kinh doanh cho bạn biết công ty thu được bao nhiêu tiền từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ.  Mục này có thể được được gọi là “Doanh thu”, “Doanh thu thuần”, “Thu nhập hoạt động ròng” hay một cái tên tương tự vậy. Bằng cách so sánh số liệu hiện tại với các năm trước, bạn có thể biết được liệu doanh thu của công ty có được cải thiện theo thời gian hay không. Doanh thu tăng lên cũng chỉ ra rằng công ty đó đang tăng trưởng tốt.

Mục tiếp theo trong Báo cáo kết quả kinh doanh là Chi phí. Hạng mục thứ hai này có thể được gọi là “Giá vốn hàng bán” (“cost of products sold”, “cost of goods sold”, “cost of sales”, “cost of services” ) hoặc các loại thuật ngữ biến thể khác tùy loại hình doanh nghiệp. Bằng việc lấy doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ đi giá vốn hàng bán sẽ cho ra Lợi nhuận gộp. Nói cách khác, phép tính này cho biết công ty thực sự thu được bao nhiêu tiền từ việc bán sản phẩm và cung cấp dịch vụ sau khi đã trừ giá vốn.

Ngoài ra có nhiều loại chi phí phải trả, nhưng lợi nhuận gộp phải đủ cao để có thể chi trả chúng và cho lợi nhuận ròng. Một số khoản chi phí mà các công ty thường có là Chi phí bán hàng, chi phí chung và chi phí quản lý (SG&A), đôi khi là “Chi phí bán hàng, chi phí marketing và chi phí quản lý” hoặc họ cũng có thể tách chi phí marketing ra thành một mục riêng biệt với chi phí chung và chi phí quản lý. Với một số công ty, chẳng hạn như các công ty về công nghệ sinh học sẽ có thêm chi phí nghiên cứu và phát triển trong hạng mục chi phí này. Khấu hao tài sản hữu hình và vô hình cũng được tính vào chi phí hoạt động. Khi nghiên cứu hạng mục chi phí, việc chi phí đang tăng lên theo thời gian cũng không nhất thiết là điều tồi tệ nếu doanh thu cũng tăng lên theo một tỷ lệ cao hơn. Tuy nhiên chắc chắn bạn sẽ không muốn chi phí tăng lên cùng với tỷ lệ tăng của doanh thu, mà sẽ là chi phí phải ổn định hoặc thậm chí là giảm xuống trong khi doanh thu tăng lên.

Khi lấy lợi nhuận gộp trừ đi tổng chi phí hoạt động bạn sẽ thu được lợi nhuận hoạt động của công ty. Và sau đó lấy kết quả thu được trừ tiếp cho chi phí lãi vay, thuế thu nhập hay bất cứ khoản điều chỉnh nào khác, bạn sẽ có được thu nhập ròng của công ty hay còn được gọi là lợi nhuận ròng sau thuế. Con số này chính là “điểm mấu chốt”, là kết quả cuối cùng mà công ty đạt được.

Cuối cùng, phần cuối của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trình bày thu nhập trên mỗi cổ phần và thu nhập trên mỗi cổ phần đã bị pha loãng của công ty (EPS và EPS pha loãng). EPS được tính bằng cách chia lợi nhuận ròng sau thuế cho tổng lượng cổ phiếu hiện hành. Một vài công ty định nghĩa cổ phiếu đang lưu hành là “cổ phiếu phổ thông bình quân hiện hành” hoặc chính là  “cổ phiếu được dùng để tính thu nhập trên một cổ phiếu”. Thật may mắn là chúng ta hoàn toàn không phải ngồi tính các phép toán này bởi hầu hết các công ty đều tính toán và công bố các chỉ số này trong báo cáo tài chính. Các nhà phân tích và nhà đầu tư luôn luôn tìm kiếm những công ty có EPS tăng trưởng tốt.

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh còn cho biết thu nhập pha loãng trên mỗi cổ phiếu. Hầu hết các công ty đều phát hành chứng khoán chuyển đổi như là quyền chọn cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi và chứng quyền. EPS pha loãng biểu hiện thu nhập trên mỗi cổ phần nếu tất cả các công cụ tài chính này được chuyển đổi thành cổ phiếu. Khi các công cụ chuyển đổi này trở thành cổ phiếu, tổng số lượng cổ phiếu đang lưu hành sẽ lớn hơn, mỗi cổ đông sẽ sở hữu một tỷ lệ cổ phiếu nhỏ hơn trong công ty, cũng có nghĩa là sở hữu tỷ lệ phân chia lợi nhuận nhỏ hơn. EPS pha loãng do đó cũng sẽ thấp hơn EPS cơ bản và các nhà đầu tư giá trị sẽ muốn sự chênh lệch này là nhỏ.

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng chỉ ra số lượng cổ phiếu đang lưu hành thay đổi như thế nào qua thời gian. Trong khi các công ty tăng trưởng vẫn thường tăng số lượng cổ phiếu đang lưu hành sau 1 năm, các cổ phiếu giá trị lại có xu hướng giảm số lượng cổ phiếu. Số lượng cổ phiếu giảm phản ánh chương trình mua lại cổ phiếu, hành động này là một dấu hiệu tốt cho thấy sự tự tin của người quản lý đối với hoạt động của công ty trong tương lai. Số lượng cổ phiếu giảm cũng đồng nghĩa với việc mỗi cổ phần của công ty sẽ được hưởng mức tỷ lệ chia lợi nhuận cao hơn. Nói cách khác, nếu số lượng cổ phiếu hiện hành tăng lên, có nghĩa là công ty đang đưa ra nhiều quyền mua cổ phiếu, điều này sẽ làm giảm thu nhập của bạn hoặc cũng có thể do công ty đang tiến hành huy động tiền thông qua việc phát hành cổ phiếu.

Tính toán lợi nhuận

Như vậy qua phần bên trên ta đã hiểu được ý nghĩa của các con số trong báo cáo kết quả kinh doanh, chúng ta có thể dùng các số liệu này để đo lường lợi nhuận. Biên lợi nhuận có thể là một chỉ số hữu dụng hơn so với doanh thu thuần vì nó đã có tính đến các khoản chi phí trong đó. Có hai loại Biên lợi nhuận là Biên lợi nhuận ròng và Biên lợi nhuận gộp. Dưới dạng tỷ lệ phần trăm, để tính biên lợi nhuận ròng ta lấy lợi nhuận ròng (lợi nhuận sau thuế) chia doanh thu trong khi biên lợi nhuận gộp được tính bằng cách lấy lợi nhuận gộp (Doanh thu – Giá vốn hàng bán) chia doanh thu. Lưu ý là những số liệu mà bạn cần để tính toán chỉ số này nằm ở đầu và cuối của báo cáo kết quả kinh doanh.

Một tỷ lệ biên lợi nhuận thấp có thể chỉ ra rằng chi phí của công ty đang quá cao hoặc giá sản phẩm dịch vụ của công ty đang bị bán giá thấp trên thị trường. Tuy nhiên, không có một con số chính xác để biết được tỷ lệ biên lợi nhuận thế nào thì là tốt, việc tỷ lệ đó tốt hay không còn phụ thuộc vào ngành, lĩnh vực hoạt động của công ty đó. Việc so sánh biên lợi nhuận của một công ty với các công ty đối thủ có thể cho bạn biết liệu công ty đó có biên lợi nhuận tốt hay không và hiệu quả của công ty đó sẽ như thế nào trong dài hạn. Ngoài ra khi so sánh biên lợi nhuận trong những năm gần đây so với các năm trước đó, bạn sẽ biết hiệu quả hoạt động của công ty như thế nào qua các năm. Các nhà đầu tư giá trị thường muốn thấy một công ty có biên lợi nhuận cao hơn các đối thủ cạnh tranh của nó, và họ muốn công ty mà họ đầu tư phải có biên lợi nhuận ổn định hoặc tăng lên theo thời gian.

Hãy nhớ rằng, nhà đầu tư giá trị là nhà đầu tư dài hạn, do đó điều quan trọng là khi nhìn vào báo cáo kết quả kinh doanh, bạn phải thấy được khả năng lợi nhuận trong dài hạn.

Với tất cả các thông tin mà bạn biết được cách thu thập trong bài viết này hay bài viết trước, giờ đây bạn có thể so sánh cổ phiếu mà bạn quan tâm với những cổ phiếu khác tương tự nó. Các nhà đầu tư giá trị cho rằng việc so sách cổ phiếu mà bạn đang xem xét với các công ty tương tự bạn vừa mua là đặc biệt hữu ích. Giá một cổ phiếu trong một lần mua lại thường phản ánh chính xác giá trị thực của công ty vì hoạt động mua lại thường được giao dịch bởi những nhà đầu tư có đầy đủ thông tin về công ty (well-informed investors). Những thương vụ mua lại này có thể làm gia tăng hoặc giảm đi lợi nhuận của nhà đầu tư.

Đối với đầu tư giá trị cũng như tất cả các loại hình đầu tư khác, dù bạn có nghiên cứu kỹ thế nào đi chăng nữa cũng đều không thể rõ ràng 100%.

Trong phần tiếp theo chúng ta sẽ tìm hiểu về những rủi ro và cách thức quản lý rủi ro.

Nguồn: Pif.vn

5/5 - (1 bình chọn)